Sỏi Mật Trái Sung - Điều trị bệnh sỏi mật, sỏi thận, sỏi gan

Thuốc sỏi mật trái sung là bài thuốc chữa trị bệnh sỏi mật, sỏi thận, sỏi gan và ngăn ngừa sỏi tái phát hiệu quả.

Sỏi mật - Nguyên nhân chính gây ra viêm tụy cấp

Viêm tụy cấp là một loại bệnh lý ngày càng phổ biến với khoảng 5 – 73 trường hợp/100.000 dân/năm. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra viêm tụy cấp như do rượu, do tăng mỡ máu, viêm tụy cấp sau chấn thương... trong đó, 16 – 40% là VTC có nguyên nhân là do sỏi mật. Vậy sỏi mật là gì? Tại sao sỏi mật lại là thủ phạm chính gây ra viêm tụy cấp. Cùng tìm hiểu ngay.

Sỏi mật là gì? Vì sao bị sỏi mật?

f:id:soimatraisung:20180710161254j:plain

Sỏi mật là do sự kết tụ thành một hoặc nhiều khối rắn chắc của các thành phần có trong dịch mật.
Sỏi mật là gì?

Sỏi mật là do sự kết tụ thành một hoặc nhiều khối rắn chắc của các thành phần có trong dịch mật, có thể được hình thành ở nhiều vị trí khác nhau trong hệ thống dẫn mật như sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ, đường dẫn mật trong gan (sỏi gan)...

Sỏi mật có 2 loại chính: sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật.

- Sỏi cholesterol: do cholesterol kết tinh trong dịch mật, khi nồng độ cholesterol trong mật cao, nồng độ muối mật thấp, có sự ứ đọng dịch mật và một số nguyên nhân khác. Nguyên nhân: do tuổi tác, ăn nhiều thức ăn có hàm lượng cholesterol cao, nhiều chất béo động vật, do sinh đẻ nhiều (phụ nữ), biến chứng từ một số bệnh tiêu hoá như bệnh Crohn, cắt đoạn hồi tràng, do dùng nhiều một số dược phẩm clofibrate, estrogen... Sỏi cholesterol thường đơn độc, không cản tia X và có màu nhạt.

- Sỏi sắc tố mật: chủ yếu là calcium bilirubinate, có màu sậm, thường hình thành đám sỏi, cản tia X nhiều, hình thành khi bilirubine tăng, không liên hợp hoặc nhiễm vi trùng, nhiễm ký sinh trùng đường mật. Nguyên nhân: tuổi tác, ăn thiếu chất béo và protein, ứ đọng dịch mật, mật nhiễm trùng hoặc nhiễm ký sinh trùng, xơ gan, bệnh tán huyết, thiếu máu Địa Trung Hải, thiếu máu hồng cầu liềm. Sỏi mật là gì? Sỏi mật có nguy hiểm không?

Nguyên nhân gây sỏi mật là gì?

Nguyên nhân gây sỏi mật thường là do sự mất cân bằng các thành phần có trong dịch mật, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Đó có thể là sự mất cân bằng do sản xuất, vận chuyển dịch mật trong gan - nơi tiết ra dịch mật, ứ trệ dịch mật kéo dài, viêm đường mật và nhiễm khuẩn dịch mật. Ngoài ra, yếu tố cơ địa cũng là một trong những nguyên nhân chính gây sỏi mà các phương pháp Tây y hiện đại khó có thể tác động.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển sỏi mật bao gồm:

  • Chức năng gan suy giảm (gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, tăng men gan...) làm giảm chất chất lượng dịch mật
  • Thừa cân, béo phì, rối loạn mỡ máu.
  • Chế độ ăn uống ít calo, nhiều chất béo bão hòa, ít chất xơ và rau xanh.
  • Lối sống ít vận động khiến dịch mật bị ứ trệ tạo điều kiện thuận lợi cho cholesterol kết tủa.
  • Sử dụng thuốc tránh thai dài ngày, do estrogen làm tăng nồng độ cholesterol trong mật.
  • Sử dụng thuốc hạ cholesterol (hạ mỡ máu) làm tăng cholesterol trong dịch mật.

Tại sao sỏi mật lại là thủ phạm chính gây ra viêm tụy cấp?

Tụy là một tạng thuộc bộ máy tiêu hoá, nằm sau phúc mạc, đi từ khúc 2 tá tràng tới núm tỳ, vắt ngang cột sống thắt lưng, chếch lên trên và sang trái. Tụy có cả hai chức năng: nội tiết và ngoại tiết. Tụy ngoại tiết sản xuất các men tiêu hoá thức ăn. Về mặt nội tiết, tụy tiết ra hai hormon chủ yếu để điều hoà đường huyết là insulin (làm hạ đường huyết) và glucargon (làm tăng đường huyết).

f:id:soimatraisung:20180710161428j:plain

Tụy là một tạng thuộc bộ máy tiêu hoá, nằm sau phúc mạc, đi từ khúc 2 tá tràng tới núm tỳ, vắt ngang cột sống thắt lưng, chếch lên trên và sang trái.

Cơ chế bệnh sinh chủ yếu của viêm tụy cấp là do sự hoạt hoá các tiền men thành các men có hoạt tính ngay trong lòng tuyến tụy, từ đó kéo theo một loạt các phản ứng kiểu dây chuyền khác. Các men tụy sau khi được hoạt hóa có hoạt tính tiêu hủy rất cao để tiêu thực phẩm và quá trình này bình thường xảy ra ở trong lòng ống tiêu hóa (tá tràng, ruột non).

Ở bệnh nhân bị sỏi mật, nhất là các trường hợp sỏi ống mật chủ gây tắc nghẽn đường mật, dịch mật sẽ trào ngược vào ống tụy, làm thay đổi pH của dịch tụy, pH dịch tụy trở thành kiềm hóa giống pH ở tá tràng nên các men tụy được kích hoạt trở thành dạng hoạt động ngay trong lòng ống tụy và kết quả là các tế bào tụy bị phá hủy dẫn đến hàng loạt những phản ứng viêm nhiễm xảy ra. Vì vậy, hiện nay, người ta cho rằng tổn thương tại chỗ ở tụy và các cơ quan lân cận là do các men tụy được hoạt hoá không đúng chỗ và các triệu chứng toàn thân là do một đáp ứng viêm hệ thống gây nên.

Viêm tụy cấp có nguy hiểm không?

Viêm tụy cấp có thể tạo điều kiện cho các enzym hoạt hóa và các chất độc như cytokine tràn ra ngoài tụy và đổ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc, sốc nhiễm trùng và lan sang các bộ phận khác vô cùng nguy hiểm. Chất độc cũng có thể được hấp thu từ ổ bụng vào mạch bạch huyết và sau đó vào máu gây nên tụt huyết áp, nhiễm trùng huyết (một bệnh rất nặng) và tổn thương các cơ quan bên ngoài ổ bụng.

Triệu chứng, biểu hiện của viêm tụy cấp do sỏi mật như thế nào?

Biểu hiện của viêm tụy cấp do sỏi thường xảy ra đột ngột, có thể ở mọi lứa tuổi nhưng thông thường ở lứa tuổi từ 30 - 50. Đau bụng là triệu chứng xuất hiện gần như ở 100% các trường hợp.

Cơn đau bụng điển hình thường xuất hiện đột ngột ở vùng trên rốn, cường độ đau dữ dội, lan lên ngực, sang 2 bên mạng sườn, xiên sau lưng, tiến triển ngày một tăng dần, đạt mức dữ dội nhất sau vài giờ và kéo dài nhiều giờ.

Có khi cơn đau quặn như đau do sỏi mật hoặc trùng với cơn đau do sỏi khiến cho triệu chứng đau tăng lên rất nhiều. Đây thường là triệu chứng đầu tiên khiến người bệnh tới bệnh viện. Triệu chứng buồn nôn và nôn xảy ra khoảng 70 - 80% ở các bệnh nhân. Nôn xuất hiện cùng với đau. Chất nôn là dịch mật, thức ăn, đôi khi cả máu (trường hợp nặng).

Cùng với đau bụng và nôn là các triệu chứng như bụng trướng, bí trung đại tiện, có thể có ỉa lỏng hay khó thở do bụng trướng hoặc có tràn dịch màng phổi kèm theo. Bệnh nhân hoảng hốt lo sợ hoặc vật vã kích thích, ý thức lơ mơ (hội chứng não - tụy), huyết áp tụt, da tái lạnh, mạch nhanh, nhỏ, khó bắt.

Khám bụng có thể thấy bụng trướng hơi, có phản ứng cục bộ vùng trên rốn, điểm sườn lưng phải, trái đau. Có thể sờ thấy mảng cứng ở trên rốn không di động do hiện tượng hoại tử mỡ, gõ đục vùng thấp do tràn dịch màng bụng. Khám có thể thấy vàng da kèm theo gan to, túi mật to do sỏi gây tình trạng ứ mật hoặc do viêm gan. Cũng có thể gặp các mảng bầm tím ở 2 bên mạng sườn (dấu hiệu Cullen) hoặc quanh rốn (dấu hiệu Grey), nhất là trong viêm tụy cấp nặng, là dấu hiệu rất đặc hiệu, biểu hiện của chảy máu ở vùng tụy và quanh tụy.

Chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi dựa vào dấu hiệu đau bụng, nôn và xét nghiệm thấy có men amilase, lipase tăng cao trong máu và nước tiểu. Siêu âm và đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính ổ bụng cho phép xác định mức độ viêm như tụy to, có dịch quanh tụy hoặc mức độ hoại tử của tụy và thấy rõ hình ảnh sỏi gây tắc nghẽn ống mật chủ, sỏi túi mật, sỏi ở đường mật trong gan.

Điều trị viêm tụy cấp do sỏi gây ra như thế nào?

Điều trị viêm tụy cấp do sỏi bao gồm các phương pháp điều trị nội khoa như truyền đủ dịch và các chất điện giải, phòng loét cấp đường tiêu hóa, giảm tiết dịch tụy, giảm đau, điều chỉnh đường huyết, kháng sinh, lọc máu liên tục nếu viêm tụy cấp diễn biến nặng hoặc có sốc tụy.

Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân nên nhịn ăn hoàn toàn (nhất là những thể viêm tụy cấp nặng) và sẽ được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch. Hiện nay, đối với viêm tụy cấp do sỏi mật gây tắc nghẽn, phương pháp lấy bỏ sỏi mật để giải phóng tắc nghẽn đường mật bằng phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) đang được áp dụng rất có hiệu quả, lấy bỏ sỏi mật, giải phóng tắc nghẽn nhanh chóng, hiệu quả mà lại không gây thương tổn nặng thêm cho bệnh nhân. Một số trường hợp viêm tụy cấp do sỏi cũng có chỉ định phẫu thuật như mổ để giải phóng tắc nghẽn đường mật (khi ERCP không thực hiện được) hoặc viêm tụy cấp có nhiễm khuẩn ổ hoại tử.

Lời khuyên của bác sĩ

Khi nghi ngờ viêm tụy cấp hoặc giun chui ống mật cần được đưa đến bệnh viện ngay để được khám và chẩn đoán xác định càng sớm càng tốt, tránh biến chứng. Người bệnh, người nhà không nên tự chẩn đoán, không tự mua thuốc điều trị.

Để phòng bệnh, không nên uống nhiều rượu, bia. Nên tẩy giun theo định kỳ (6 tháng/lần) theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh. Khi bị sỏi mật cần tích cực điều trị, bởi vì, sỏi mật ngoài biến chứng viêm tụy cấp còn gây nhiều biến chứng nguy hiểm khác không thể xem thường.

Sỏi mật trái sung (Theo TS.BS. Vũ Đức Định)

Polyp túi mật: Cách nhận biết và điều trị như thế nào?

Polyp túi mật là một bệnh về túi mật khá phổ biến hiện nay, bệnh tiềm ẩn nhiều mối nguy hại khôn lường đến sức khỏe người bệnh. Vậy Polyp túi mật là bệnh gì?  Cách nhận biết và điều trị polyp túi mật hiện nay như thế nào? Cùng Sỏi mật trái sung tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây.

f:id:soimatraisung:20180710153026j:plain

Polyp túi mật: Cách nhận biết và điều trị như thế nào?

Polyp túi mật là gì?

Túi mật là một túi nhỏ nằm dưới gan, chứa dịch mật giúp tiêu hóa chất béo. Ngoài bệnh lý thường gặp là sỏi mật thì vị khách có tên là polyp túi mật cũng có thể ghé thăm bạn bất ngờ.

Một polyp túi mật là bất kỳ tổn thương nào nhô cao từ bề mặt niêm mạc túi mật, bao gồm cả tổn thương lành tính và ác tính. Tuy đa số polyp túi mật là lành tính, nhưng vẫn có một số trường hợp là ung thư, đây là mối nguy tiềm ẩn cho tính mạng bệnh nhân. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý polyp ác tính có ý nghĩa cứu sống bệnh nhân.

Polyp túi mật là thuật ngữ chuyên môn y học để mô tả các hình thái tổ chức xuất phát từ thành túi mật phát triển lồi vào trong lòng túi mật. Các hình thái tổ chức có bản chất cấu trúc khác nhau, có thể là lành tính (không phải ung thư) hoặc không lành tính (ung thư).

Polyp túi mật lành tính chiếm khoảng 92% các trường hợp, gồm có hai loại: u thật như adenome (u tuyến), leiomyome (u cơ), lipome (u mỡ)... u giả như cholesterol polyp (u cholesterol), andenomyomatosis (u cơ tuyến), viêm giả u...

Polyp túi mật ác tính chiếm khoảng 8%, gồm có adenocarcinome (ung thư tuyến), mealanome (u sắc tố), di căn ung thư...

Có các dạng polyp túi mật nào?

Polyp túi mật là một bệnh thường gặp với tỉ lệ khoảng 5% dân số. Trong đó 95% là lành tính và phần lớn là những polyp cholesterol. Một vài nghiên cứu cho thấy: các polyp cholesterol thường gặp ở những bệnh nhân từ 40-50 tuổi, phổ biến là ở phụ nữ; polyp cholesterol chiếm trên 50% các trường hợp polyp túi mật, chúng thường nhiều và có cuống, có kích thước từ 2-10mm; adenomyomas là loại phổ biến thứ hai của polyp túi mật, chiếm khoảng 30% trường hợp polyp túi mật, thường đơn độc, kích thước từ 10-20mm, thường thấy ở đáy của túi mật; các polyp ác tính chiếm khoảng 5%; những polyp ít gặp là ung thư nơi khác di căn đến túi mật, carcinoma tế bào vảy và angiosarcoma.

Hầu hết các polyp nhỏ không phải là tổn thương ung thư và có thể không thay đổi trong nhiều năm. Nhưng nếu polyp nhỏ đi kèm các bệnh lý khác, chẳng hạn như viêm đường mật xơ dính nguyên phát, thì chúng lại có khả năng là ác tính.

Các nghiên cứu cho biết có nhiều yếu tố liên quan đế việc hình thành polyp túi mật như: rối loạn chức năng gan mật; nồng độ đường trong máu cao; nồng độ mỡ trong máu tăng; người béo phì, nhiễm virut viêm gan... Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào chứng minh rõ ràng cho mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ với sự tạo ra polyp túi mật.

Làm sao để nhận biết polyp túi mật?

 Đa phần các trường hợp polyp túi mật không có biểu hiện triệu chứng và được phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hay đi khám vì các lý do khác. Chỉ khoảng 6 - 7% bệnh nhân polyp túi mật có biểu hiện triệu chứng, thường gặp nhất là đau tức dưới sườn phải hay đau vùng trên rốn, một số ít có biểu hiện buồn nôn – nôn, ăn chậm tiêu và co cứng nhẹ vùng dưới sườn phải.

Triệu chứng thường gặp là đau ở dưới sườn giống như bệnh lý sỏi túi mật, nhưng khác với sỏi túi mật ở chỗ, polyp túi mật ít khi có biểu hiện cấp tính do viêm hay những biến chứng của sỏi gây ra như viêm đường mật, tắc mật. Vì vậy chẩn đoán chủ yếu dựa vào các thăm dò cận lâm sàng.

Hiện nay với sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh siêu âm, siêu âm nội soi, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) đã giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán polyp túi mật.

f:id:soimatraisung:20180710153302j:plain

Hiện nay, siêu âm vẫn là phương pháp chính phát hiện polyp túi mật.

Trong các thăm dò chẩn đoán phổ biến trên thế giới nêu ở trên thì siêu âm vẫn là phương pháp được lựa chọn chính. Trên siêu âm có thể phát hiện thấy hình ảnh tăng âm bám trên bề mặt túi mật, không có bóng cản và không thay đổi theo tư thế người bệnh, đây là dấu hiệu để phân biệt với sỏi túi mật. Mặc dù có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao, nhưng siêu âm không thể phân biệt được là polyp lành tính hay ác tính để có chỉ định điều trị phẫu thuật.

Cách điều trị polyp túi mật như thế nào?

Trên thực tế hầu hết các polyp lành tính nên không cần phải phẫu thuật cắt bỏ. Trường hợp polyp xảy ra ở những người trên 50 tuổi, kích thước polyp lớn hơn 1cm mà có kèm theo sỏi mật, khi đó cần phẫu thuật cắt bỏ luôn cả túi mật. Đặc biệt đối với các polyp có nguy cơ ác tính thì bác sĩ thường chỉ định phẫu thuật cắt túi mật nội soi là một lựa chọn cho polyp nhỏ hoặc đơn độc dạng này.

Khi nghi ngờ polyp túi mật phát hiện qua siêu âm nhưng bệnh nhân không có triệu chứng như đau, sốt... trường hợp này bệnh nhân cần được theo dõi, kiểm tra lại sau 6 tháng hay một năm để xác định thái độ điều trị: nếu sau thời gian đó mà không còn hình ảnh của polyp thì không cần phải xử trí gì. Trái lại, khi hình ảnh polyp rõ, cần theo dõi định kỳ bằng siêu âm 6 tháng nếu khối u lớn trên 10mm hoặc có phát hiện các biểu hiện ác tính qua xét nghiệm máu, các thăm dò khác hoặc polyp đã có biểu hiện lâm sàng như đau, sốt tái phát thì cần phải phẫu thuật sớm. Phẫu thuật nội soi, cắt túi mật nội soi là phẫu thuật ít xâm hại, ít đau và bệnh nhân hồi phục nhanh, ít biến chứng.

Polyp túi mật - Khi nào cần điều trị?

Nếu nghi ngờ polyp túi mật phát hiện qua siêu âm mà bệnh nhân không có triệu chứng như đau, sốt... thì nên kiểm tra lại sau 6 tháng hay một năm để khẳng định. Nếu sau thời gian đó mà không còn hình ảnh của polyp thì không cần phải xử trí gì.

Trường hợp hình ảnh polyp rõ, cần theo dõi định kỳ bằng siêu âm 6 tháng nếu khối u lớn trên 10mm, hoặc có phát hiện các biểu hiện ác tính qua xét nghiệm máu, các thăm dò khác hoặc polyp đã có biểu hiện lâm sàng như đau sốt tái phát nên chỉ định phẫu thuật sớm.

Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước thì polyp túi mật nếu xác định trên siêu âm có kích thước nhỏ hơn 10mm hầu hết lành tính. Ngoài ra những hình ảnh gợi ý tính chất ác khi thấy polyp có chân lan rộng, hình không đều đặn, phát triển nhanh, cần phải can thiệp phẫu thuật ngoại khoa để cắt bỏ túi mật.

Ngày nay với sự phát triển phẫu thuật nội soi, cắt túi mật nọi soi là phẫu thuật ít xâm hại, ít đau và bệnh nhân hồi phục nhanh, ít biến chứng nếu phẫu thuật viên có kinh nghiệm.

Người bị polyp túi mật nên ăn gì?

Khi bạn có polyp túi mật, cơ thể sẽ trở nên nhạy cảm hơn với chế độ ăn. Bởi sự có mặt của polyp có thể làm ứ trệ dịch mật, đồng thời gây ảnh hưởng tới chức năng cô đặc và co bóp để tống xuất dịch mật ra khỏi túi mật. Vì thế, người bệnh nếu chẳng may ăn quá nhiều dầu mỡ sẽ thấy ấm ách vùng hạ sườn phải, đầy bụng, thức ăn chậm tiêu… nhưng nếu ăn ít thì lại làm tăng nguy cơ hình thành sỏi mật do dịch mật không thể xuống ruột non. Do đó, muốn sống chung với bệnh polyp túi mật, cũng như phòng ngừa polyp tiến triển thành ung thư, người bệnh cần trang bị cho mình những kiến thức đầy đủ về các thực phẩm nên ăn và nên kiêng.

Các thực phẩm nên ăn khi bị polyp túi mật?

Quy tắc đầu tiên trong chế độ ăn uống tốt cho người bệnh polyp túi mật là uống nhiều nước. Bất kỳ khi nào thấy đau túi mật, ngay lập tức bạn hãy uống vài ngụm nước, cơn đau sẽ được xoa dịu phần nào do nước là dung môi giúp đào thải nhanh các độc tố ra khỏi cơ thể. Người bệnh có thể uống nước lọc, hoặc pha với một chút xíu nước cốt chanh, hay nước hoa quả.

Một chế độ ăn được xem là hợp lý cho người bệnh polyp túi mật là vẫn đảm bảo cân bằng được các dưỡng chất cần thiết, bao gồm chất đạm, chất béo, tinh bột và vitamin.

Người bệnh polyp túi mật nên lựa chọn các thực phẩm sau đây:

- Trái cây tươi, hoa quả là nguồn cung cấp rất nhiều vitamin thiết yếu cho cơ thể

- Nên ăn lòng trắng trứng thay vì lòng đỏ bởi vì chúng có ít cholesterol

- Các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt lợn nạc, bỏ mỡ và bì; thịt gia cầm bỏ da

- Sữa ít chất béo hoặc không có chất béo

- Nên lựa chọn tinh bột có trong gạo lứt, ngũ cốc nguyên hạt, yến mạch… cũng như các loại chất xơ để giúp làm giảm hấp thu cholesterol trong bữa ăn

- Thực phẩm cung cấp nguồn chất đạm như cá, đậu, đỗ, các loại thịt có màu trắng…

- Người bệnh polyp túi mật có thể sử dụng nguồn chất béo tốt đến từ các loại quả hạch (quả hồ đào, hạnh nhân, óc chó...), hoặc chất béo có trong cá biển, và các loại thực vật như dầu oliu, dầu hạt cải, quả bơ...

Sử dụng nhiều cà phê có thể kích thích cơn đau túi mật, tuy nhiên, những người có bệnh túi mật vẫn có thể sử dụng cà phê từ 1-2 ly mỗi ngày. Khi chọn cà phê, không nên cho thêm quá nhiều đường hoặc sữa chưa tách béo.

Lời khuyên của bác sĩ

Do polyp túi mật không có triệu chứng và có thể là ung thư nên mọi người nên khám sức khỏe tổng quát định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện và điều trị bệnh sớm. Cần hạn chế các yếu tố liên quan đến sự hình thành polyp túi mật như chẩn đoán và điều trị tích cực các rối loạn chức năng gan mật; nồng độ đường, mỡ trong máu cao, viêm gan do virut...

Tham khảo:

(Theo Bs. Bùi Thị Thu Hương - BS. Nguyễn Thu Hiền)

Người bị polyp túi mật kiêng ăn gì là tốt nhất?

Người bị polyp túi mật kiêng ăn gì để có thể ngăn chặn được những triệu chứng bệnh và phòng ngừa biến chứng cho sức khỏe? Cùng Sỏi Mật Trái Sung tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây.

Khi có polyp túi mật, cơ thể người bệnh sẽ nhạy cảm hơn với chế độ dinh dưỡng do sự có mặt của polyp gây nên ứ trệ dịch mật, đồng thời gây ảnh hưởng tới hoạt động cô đặc và co bóp để đẩy dịch mật ra khỏi túi mật. Nếu người bệnh không may ăn quá nhiều những món có dầu mỡ sẽ cảm thấy thấy ấm ách vùng hạ sườn phải, đầy bụng, chậm tiêu… nhưng nếu ăn ít lại tăng nguy cơ hình thànch  do dịch mật không thể đẩy được xuống ruột non. Chính vì lẽ đó, để sống chung với polyp túi mật đồng thời phòng ngừa polyp tiến triển thành ung thư, người bệnh cần điều chỉnh chế độ ăn uống cho phù hợp. Vậy polyp túi mật là bệnh gì? Triệu chứng polyp túi mật? Người bị polyp túi mật nên ăn gì và kiêng ăn những gì?

Polyp túi mật là bệnh gì?

polyp túi mật
Polyp túi mật là bất kỳ tổn thương nào nhô cao từ bề mặt niêm mạc bên trong của túi mật.

Polyp túi mật mọc nhô ra từ lớp niêm mạc bên trong của túi mật. Polyp túi mật thường được phát hiện trên siêu âm.

Đa số các polyp túi mật là vô hại, chúng chỉ là các khối cholesterol được tích tụ chứ không phải là các tế bào ung thư. Tuy nhiên, polyp túi mật cũng có thể là các khối u nhỏ, một số trong đó có thể là ung thư trong khi những khối khác là u lành tính. Những khối u nhỏ này có thể nhô ra từ bên trong các thành của túi mật.

Khi nói đến polyp túi mật, kích thước chắc chắn rất quan trọng: polyp càng lớn, càng có nguy cơ ung thư túi mật. Polyp lớn hơn 1 cm có nhiều khả năng là ung thư, vì vậy các bác sĩ thường khuyên cắt bỏ túi mật ở bệnh nhân có polyp túi mật lớn. Những polyp nhỏ hơn ít có khả năng phát triển thành ung thư.

Nguyên nhân chính xác gây ra bệnh polyp túi mật vẫn chưa được biết rõ. Những khối u này thường lành tính nhưng không lúc nào cũng vậy, thậm chí còn có một số bằng chứng cho thấy tuổi của người, sỏi mật hoặc polyp có kích thước lớn cũng có thể tiến triển thành ác tính. Tuy nhiên, vì khối u thường không được chẩn đoán cho đến khi siêu âm bụng hoặc phẫu thuật túi mật, bạn phải hiểu biết về căn bệnh để ứng phó kịp thời.

Triệu chứng polyp túi mật

Trên thực tế, polyp túi mật thường được phát hiện tình cờ khi kiểm tra vùng bụng bằng siêu âm hoặc có biểu hiện đau bụng. Có khoảng 6-7% bệnh nhân bị polyp túi mật có biểu hiện triệu chứng, thường gặp nhất là đau tức dưới sườn phải hay đau vùng trên rốn, một số ít có biểu hiện buồn nôn hay nôn thật sự, ăn chậm tiêu, thấy co cứng nhẹ vùng da bụng ở dưới sườn phải.

Với triệu chứng đau ở dưới sườn tuy giống bệnh sỏi túi mật, nhưng khác với sỏi túi mật ở chỗ, polyp túi mật ít khi có biểu hiện cấp tính do viêm hay những biến chứng của sỏi gây ra như viêm đường mật, tắc mật.

Siêu âm có thể phát hiện thấy hình ảnh tăng âm bám trên bề mặt túi mật, không có bóng cản và không thay đổi theo tư thế người bệnh, đây là dấu hiệu để phân biệt với sỏi túi mật. Tuy nhiên, siêu âm không thể phân biệt được là polyp lành tính hay ác tính để có chỉ định phẫu thuật. Thông thường siêu âm có thể thấy hình ảnh chung của polyp túi mật là một bóng giống polyp mọc vào trong lòng túi mật, thường là bất động, trừ khi là polyp có cuống dài; các hình ảnh polypcholesterol thường có kích thước nhỏ với tỉ lệ trên 90% là dưới 10mm, hầu hết nhỏ hơn 5mm. Nếu là adenoma thì có kích thước lớn hơn, đơn độc, không cuống với mạch máu bên dưới và độ phản âm trung bình. Nếu polyp có đường kính trên 10mm thì tỷ lệ ác tính là 37-88%.

Người bị polyp túi mật nên ăn gì và kiêng gì?

Người bị polyp túi mật nên ăn gì và kiêng ăn gì?
Người bị polyp túi mật nên ăn gì và kiêng ăn gì?
Polyp túi mật nên ăn gì?

Tình trạng béo phì, mỡ máu cao là một trong những yếu tố hình thành polyp túi mật. Vì vậy, để phòng bệnh và tránh bệnh nặng hơn, chúng ta cần giữ cân nặng ổn định, đường gan, mật tốt. Do đó, đối với người bị polyp túi mật thì chế độ ăn uống phải thanh đạm gần giống với người bị bệnh tim mạch, cao huyết áp, tức là phải giảm cholesterol xấu trong máu.

- Bạn có thể giảm cholesterol bằng các loại thực phẩm lành mạnh gồm: Yến mạch, các loại hạt, đậu, thay chất béo từ thực vật bằng động vật, tăng ăn cá hồi thay thịt động vật...

- Nên chọn thịt nạc từ gia cầm. Nếu ăn cá, nên chọn các loại cá biển. Đặc biệt là nên ăn những loại rau xanh có chứa nhiều chất xơ.

- Nên ăn những thực phẩm theo màu như màu đen chọn nấm hương, mộc nhĩ; màu vàng chọn cà rốt, bí ngô; màu xanh chọn các loại rau họ cải; màu trắng chọn cải bắp, su hào... bởi những thực phẩm này chứa nhiều chất xơ, vitamin A, B1, C và chứa thành phần chống viêm cho người bệnh.

- Nên ăn nhiều loại trái cây tươi, hoa quả tươi để cung cấp nhiều vitamin thiết yếu cho cơ thể.

- Nên ăn lòng trắng trứng thay vì lòng đỏ bởi vì chúng có ít cholesterol.

- Các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt lợn nạc, bỏ mỡ và bì; thịt gia cầm bỏ da.

Người bị polyp túi mật kiêng ăn gì?

Trên thực tế, bênh nhân polyp túi mật không cần phải tuân thủ chế độ ăn quá kiêng khem nhưng để giảm các triệu chứng đồng thời ngăn ngừa biến chứng, vậy người bị polyp túi mật kiêng ăn gì? Người bệnh nên hạn chế một số thực phẩm có chứa nhiều chất béo có hại hoặc chứa nhiều cholesterol trong các nhóm được liệt kê sau đây:

- Chocolate, đồ ngọt: Trừ những thanh chocolate nguyên chất, đa phần chocolate hiện nay đều được thêm một lượng lớn chất phụ gia khác nhau để tạo vị ngọt và hương vị. Bên cạnh đó các loại bánh, bánh sinh nhật, kem, sữa chua… cũng nên hạn chế.

- Sữa: Có thể không phải dừng hẳn việc dùng sữa nhưng bệnh nhân nên hạn chế. Bệnh nhân có thể từ từ giảm lượng sữa hàng ngày để theo dõi chuyển biến của bệnh.

- Thực phẩm có chất béo cao: Bất kỳ thực phẩm nào có hàm lượng chất béo cao đều sẽ gây ra những cơn đau đớn cho người bệnh. Do đó, người bệnh không nên ăn nhiều thịt mỡ, đồ chiên xào. Tuy nhiên, người bệnh cũng cần cân nhắc để cân đối lượng mỡ nạp vào, bởi nếu tiêu thụ quá ít hoặc cắt hoàn toàn chất béo sẽ khiến bệnh nhân giảm cân nhanh chóng, hoặc gây ra các triệu chứng như đau đầu và chóng mặt.

- Rượu, đồ uống có cồn: Sử dụng nhiều hoặc thường xuyên rượu không mang lại lợi ích cho túi mật và ngay cả sự hoạt động của gan.

Trên đây là những hướng dẫn cơ bản khi bị polyp túi mật nên ăn gì và kiêng ăn gì mà người bệnh cần chú ý. Polyp túi mật có thể gây nên những biến chứng nguy hiểm như ung thư túi mật, viêm nhiễm túi mật, hoại tử túi mật rất nguy hiểm do đó, bệnh nhân không được chủ quan với căn bệnh này. Khi mắc bệnh người bệnh tốt nhất là nên chữa trị bệnh theo chỉ dẫn của các bác sĩ chuyên khoa để có thể hạn chế được bệnh tốt nhất.

tác dụng của trái sung

Sỏi Mật Trái Sung  được chiết xuất từ Trái sung, Kim tiền thảo, Nấm linh chi, Hương phụ, Nhân trần, Kim ngân hoa, Uất kim,…  dùng cho các trường hợp bị sỏi mật, sỏi túi mật,  sỏi gan, sỏi thận, bùn mật và các trường hợp đã phẫu thuật lấy sỏi, tán sỏi.

Thương nhân chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm: CÔNG TY TNHH UNITED SPOT MEDICAL(124 Lương Trúc Đàm, P.Hiệp Tân, Quận Tân Phú, TP.HCM).

Điện thoại tư vấn: 083 976 0686 – 0908 797 616. 

Giấy phép quảng cáo số 02123/2016/XNQC-ATTP do Cục An toàn Thực phẩm, Bộ Y tế cấp.

Uống nước chanh mật ong buổi sáng: Lợi ích và cách pha chế

Nước chanh mật ong rất tốt cho cơ thể nhất là khi uống vào buổi sáng mỗi khi thức dậy. Nước chanh có tác dụng đào thải độc tố có trong cơ thể,  khi kết hợp cùng mật ong tạo ra loại đồ uống bổ dưỡng có tính kháng khuẩn cao và có nhiều chất chống oxy hoá cực tốt cho sức khoẻ mỗi ngày.

Vì sao nên uống chanh mật ong buổi sáng, cách pha nước chanh mật ong buổi sáng

Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh thì công dụng của nước chanh và mật ong giúp cho bạn có một tinh thần sảng khoái, để bắt đầu một ngày mới năng động, mạnh khỏe. Uống nước chanh mật ong vào buổi sáng còn rất tốt cho hệ tiêu hóa, đào thải độc tố, tăng cường miễn dịch, giúp giảm cân, làm cho da dẻ mịn màng trắng sáng… Bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn những tác dụng chữa bệnh của chanh, mật ong, những lợi ích sức khỏe tuyệt vời khi bạn kiên trì uống nước chanh mật ong mỗi sáng khi thức dậy và hướng dẫn bạn cách pha nước chanh mật ong để đem lại những hiệu quả tốt nhất.

Tác dụng chữa bệnh của quả chanh trong Đông Y

Cây chanh thuộc loại thân gỗ nhỏ, cao 3-4m phát triển nhiều cành, có gai nhọn. Lá nhỏ, khi vò có mùi thơm, mép có răng cưa nhỏ. Hoa nhỏ có màu trắng tím, mọc ở nách lá. Quả có hình cầu hơi dài, màu lục, khi chín màu vỏ hơi vàng, chứa nhiều nước và hạt. Quả chanh dùng để pha nước giải khát, làm thuốc chữa bệnh.

Vì sao nên uống chanh mật ong buổi sáng, cách pha nước chanh mật ong buổi sáng

Tranh là loại quả rất giàu vitamin C, có thể cung cấp tới 21% nhu cầu vitamin C hàng ngày cho nam giới và 25% cho nữ giới. Không chỉ ngăn ngừa bệnh ung thư, tim mạch và lão hóa, vitamin C còn hỗ trợ mục tiêu giảm cân bằng cách đốt cháy nhiều chất béo.

Theo đông y, quả, vỏ, hạt chanh được dùng làm thuốc chữa bệnh. Quả có vị chua, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, chống nôn, sát trùng, sáng mắt, chữa ho, khản cổ, lợi tiêu hóa.

Vỏ quả có vị đắng, the, mùi thơm, tính lạnh. Tác dụng thanh nhiệt bình can, giáng hỏa, thông khí, tiêu đờm, tiêu thực, bổ tì, yên dạ dày, khỏi nôn, chữa cảm sốt, nhức đầu, ho có đờm, tức ngực, chữa bụng đầy táo bón, tì vị suy yếu, không muốn ăn, hay nôn, ợ, đầy bụng.

Tác dụng chữa bệnh của mật ong trong Đông Y

Mật ong còn gọi là bách hoa cao hoặc bạch mật, thạch mật, là sản vật quý của tự nhiên, vừa là món ăn, vừa là vị thuốc. Mật ong quen thuộc với con người ở khắp nơi trên thế giới với nhiều ứng dụng trong đời sống và y dược.

Vì sao nên uống chanh mật ong buổi sáng, cách pha nước chanh mật ong buổi sáng

Theo các chuyên gia đông y, mật ong có vị ngọt, tính bình, không độc; quy vào các kinh phế, tỳ, đại tràng; có công năng giải độc, nhuận phế, thông tiện và điều hòa các dược liệu khác, còn dùng để giải độc thuốc, trong đó có cả vị ô đầu, phụ tử.

Mật ong có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau: ho, nhiều đờm, ho khan, rát họng do viêm họng cấp mạn tính, viêm amidal... Táo bón do tỳ vị hư nhược, ruột bị nê trệ do nhu động ruột giảm, đau thượng vị. Còn dùng mật ong trị tăng huyết áp, mất ngủ, đau dây thần kinh... Ngoài ra, mật ong còn được dùng như một phụ liệu quý để chế biến một số vị dược liệu cũng như có trong thành phần của nhiều chế phẩm Đông dược. Do có hai công năng chính là kiện tỳ và ích khí phế nên mật ong được sử dụng như một phụ liệu quý để chế biến các vị thuốc có tác dụng quy vào hai kinh tỳ và vị.

Uống nước chanh mật ong mỗi buổi sáng có tác dụng gì?

Như trên ta đã thấy cả chanh và mật ong đều là những dược liệu quý, công dụng của chúng được áp dụng trong rất nhiều bài thuốc chữa bệnh trong đông y. Vậy uống nước chanh pha với mật ong có những tác dụng gì? Sau đây là những lợi ích tuyệt vời khi uống nước chanh mật ong mỗi sáng mà trang tin Times News tổng hợp.

Vì sao nên uống chanh mật ong buổi sáng, cách pha nước chanh mật ong buổi sáng

- Tăng cường miễn dịch: Tác dụng điều chỉnh miễn dịch của nước chanh và mật ong có thể bảo vệ bạn khỏi những bệnh nhiễm trùng theo mùa cũng như dị ứng. Bạn sẽ thấy sự giảm bớt đáng kể những cơn cảm cúm nếu dùng thức uống này mỗi ngày.

- Giảm nhiễm trùng đường tiểu và sỏi thận: Tác động lợi tiểu của nước chanh và tác động kháng khuẩn của mật ong phối hợp với nhau để loại bỏ những chất không cần thiết và vi khuẩn gây bệnh ra khỏi thận, bàng quang và đường niệu sinh dục.

- Thuốc trị nhiễm trùng cổ họng: Nếu bạn bị đau cổ họng, một ly nước ấm pha với chanh và mật ong có thể đem lại hiệu ứng giảm đau cấp kỳ. Các peroxide trong mật ong đóng vai trò như những chất khử trùng. Đó cũng là lý do tại sao mật ong được thoa lên các vết thương và vết bỏng để chúng mau lành.

- Giúp làm sạch gan: Một lá gan khỏe mạnh có vai trò then chốt đối với sức khỏe lâu dài, đồng thời giúp duy trì một trọng lượng cơ thể lý tưởng. Là bộ phận chính giúp thanh lọc cơ thể, gan cần được làm sạch và hoạt động bình thường. Bên cạnh đó, gan cũng góp phần quan trọng vào quá trình tiêu hóa và đốt cháy calorie.

- Cải thiện tiêu hóa: Cả mật ong và chanh đều có tiềm năng làm sạch ruột kết và làm trôi đi thực phẩm không tiêu hóa được, các tế bào ruột và những chất độc khác vốn có thể tích tụ bên trong cơ thể. Hệ tiêu hóa tốt có thể giúp bạn loại bỏ trọng lượng thừa.

- Ngăn ngừa táo bón: Dường như không có gì đọ được với nước ấm có pha chút mật ong và nước chanh khi nói đến việc ngăn ngừa táo bón, dù có không ít liệu pháp tại gia giúp xử lý vấn đề này. Táo bón có thể không khiến bạn tăng cân, nhưng hội chứng ruột kích thích và những vấn đề khác có thể tác động đáng kể đến cân nặng của bạn. Ngoài ra, những người thừa cân hoặc béo phì thường than phiền bị táo bón.

- Làn da khỏe mạnh, sáng mịn: Mật ong và nước chanh có thể đem lại làn da trắng sáng nhờ khả năng loại bỏ chất độc và những chất thải khác khỏi cơ thể, qua đó ngăn ngừa mụn trứng cá và những vấn đề về da. Bạn có thể nhận thấy da mình “dễ nhìn” hơn trong vòng 2 - 3 tuần kể từ khi bắt đầu uống thứ nước này.

- Giảm cân an toàn, hiệu quả: Mật ong tuy ngọt nhưng lại mang năng lượng rất thấp không làm năng lượng cơ thể tăng đáng kể trong ngày. Chanh lại chứa các axit có tác dụng giảm cân khi kết hợp chung với mật ong sẽ có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu giúp việc giảm cân đạt hiệu quả.

Cách pha nước chanh mật ong

Nước chanh mật ong đem lại nhiều lợi ích sức khỏe tuyệt vời. Tuy nhiên, không hẳn ai cũng biết cách pha nước chanh mật ong đúng cách và đúng liều lượng để đem lại công dụng tốt nhất. Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu tới các bạn 2 công thức pha nước chanh mật ong giúp cải thiện sức khoẻ được nhiều người sử dụng nhất.

1. Pha nước chanh mật ong với nước ấm

- Nguyên liệu gồm có: 1 quả chanh tươi, 2 thìa cafe mật ong nguyên chất300 ml nước ấm.

- Cách pha chế: Vắt nước cốt 1/2 quả hoặc 1 quả chanh vào một chiếc cốc thuỷ tinh tuỳ thuộc vào bạn có thích độ chua hay không. Dùng thìa vớt bỏ hạt và cho vào khoảng 300 ml nước ấm cùng 2 thìa mật ong rồi khuấy đều lên là đã có thể uống được.

Lưu ý: Đối với phương pháp này bạn nên uống sau khi  ăn sáng 30 phút và trước khi đi ngủ 30 phút là tốt nhất.

2. Ướp chanh và mật ong để uống dần

- Nguyên liệu gồm: 1 đến 2 quả chanh tươi, 2 thìa cafe muối trắng10ml mật ong nguyên chất.

- Cách pha chế: Chanh tươi sau khi mua về đem rửa sạch, rồi đem ngâm với 2 thìa cafe muối ăn hoà cùng nước lạnh khoảng 30 phút sau đó vớt ra rửa sạch lại lần nữa. Cắt quả chanh thành từng lát mỏng có cả vỏ. Sau đó bạn dùng một lọ thuỷ tinh sạch xếp từng lớp chanh vào, xếp lần lượt cứ 1 lớp chanh thì đổ 1 lớp mật ong sen kẽ nhau cho đến khi hết. Cuối cùng đậy nắp lọ lại và bảo quản ở nơi thoáng mát hoặc trong ngăn mát của tủ lạnh để dùng dần.

Áp xe gan đường mật – Biến chứng nguy hiểm của sỏi mật

Áp xe gan đường mật là bệnh lý cấp cứu về tiêu hóa, bệnh có thể do sỏi mật lớn làm tắc dịch mật, viêm nhiễm dường dẫn mật dẫn đến làm mủ và tạo ổ áp xe trong đường mật, sau đó lan sang nhu mô gan. Bệnh nhân áp xe gan đường mật cần được chẩn đoán, điều trị kịp thời đề phòng những biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng người bệnh.

Bệnh áp xe gan thường do amip (ký sinh trùng Entamoeba Histolytic sống ký sinh ở đại tràng.) hoặc do vi khuẩn gây nên. Trong bài viết này chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu về áp xe gan do vi khuẩn xâm nhập khi đường mật bị viêm nhiễm, thường là do sỏi đường mật (sỏi ống mật chủ) hoặc sỏi mật trong gan (bệnh sỏi gan) gây nên.

Bệnh áp xe gan đường mật là gì?

Bệnh áp xe gan là sự mưng mủ trong tổ chức gan. Ổ mủ có thể to hoặc nhỏ, đơn độc hay nhiều ổ mủ khác nhau. Áp xe gan là một bệnh rất nguy hiểm vì sẽ gây nhiễm khuẩn, nhiễm độc tế bào gan và có thể xảy ra biến chứng nghiêm trọng.

Bệnh áp xe gan đường mật là bệnh áp xe do viêm đường mật lan sang nhu mô gan tạo nên. Bệnh thường có biểu hiện khác nhau tùy theo người lớn hay trẻ em khi bị mắc bệnh.

Áp xe gan đường mật – Biến chứng nguy hiểm của sỏi mật
             Áp xe gan đường mật – Biến chứng nguy hiểm của sỏi mật.

Nguyên nhân gây áp xe gan đường mật thường là:

- Biến chứng của sỏi mật: Trong điều kiện bình thường, dòng chảy của dịch mật được lưu thông trong đường mật không có vi khuẩn hoặc số lượng vi khuẩn rất ít không đủ để gây bệnh. Khi đường mật có sỏi, nếu sỏi lớn sẽ gây tắc nghẽn đường mật, ứ trệ và tăng áp lực dịch mật dễ gây tổn thương đường mật tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm khuẩn đường mật, tạo mủ và hình thành ổ áp xe gan mật. Do đó, áp xe gan đường mật thường kèm các triệu chứng của sỏi mật và bùn mật trong ống mật chủ và ống mật trong gan (sỏi gan).

- Do giun: trường hợp này hay gặp ở trẻ em, do giun lên đường mật gây viêm đường mật và áp xe.

- Do cả sỏi mật và giun:  trong thực tế nhiều trường hợp bệnh nhân bị áp xe gan đường mật thường do cả sỏi mật và giun gây nên.

Phân biệt áp xe gan đường mật với áp xe gan do amíp

Việc phân biệt áp xe gan đường mật với ápxe gan amíp rất quan trọng vì nó quyết định cách xử trí can thiệp khác nhau không những đối với ổ ápxe mà còn cả với những biến chứng khi ápxe gan vỡ vào ổ bụng hay lồng ngực.

- Áp xe gan amíp: thường là áp xe đơn độc, hay nằm bên gan phải, trong mủ không có vi khuẩn, điều trị bằng cách chọc hút mủ hoặc rạch dẫn lưu mủ bệnh có thể khỏi, tỉ lệ tử vong khoảng 4 - 8%.

- Áp xe gan đường mật: thường có nhiều ổ nhỏ, thành bọc ápxe cứng, mủ chứa nhiều vi khuẩn gram âm và vi khuẩn yếm khí, kèm thêm tắc đường dẫn mật nên việc xử trí can thiệp ngoại khoa phức tạp hơn, tỉ lệ tử vong có thể chiếm tới 80%; hiện nay nhờ những kỹ thuật tiến bộ về phẫu thuật cắt gan nên thời gian gần đây tỉ lệ tử vong giảm xuống còn khoảng 14%.

Áp xe gan đường mật – Biến chứng nguy hiểm của sỏi mật
Triệu chứng áp xe gan đường mật.

Triệu chứng áp xe gan do đường mật

Dấu hiệu, triệu chứng của ápxe gan đường mật có biểu hiện khác nhau tùy theo lứa tuổi.

- Đối với người lớn, bệnh nhân thường bị sốt cao, thể trạng suy sụp nhanh, có khi mê sảng, huyết áp hạ, kèm theo dấu hiệu nhiễm khuẩn máu, vàng da, đi tiểu ít. Sờ nắn thấy gan to xuống dưới bờ sườn, mật độ gan rắn chắc hơn so với ápxe gan do amíp, có khi có cục lổn nhổn dễ nhầm lẫn với ung thư gan; vì vậy cần phân biệt rõ.

Dấu hiệu thường gặp ở áp xe gan do amíp là ápxe đơn độc, có xu hướng phát triển lên trên bề mặt của gan, có dấu hiệu rung gan dương tính, đau khi ấn gian sườn số 9 bên phải trên đường nách giữa.

Trái lại, ápxe gan đường mật thường nằm ở phía gan trái, nếu gan trái to có thể nắn thấy thành bụng co cứng ở dưới mũi xương ức, ấn vào điểm dưới mũi xương ức gây đau. Có trường hợp đôi khi ápxe gan đường mật là loại ápxe đơn độc, to, nổi lồi lên dưới mặt da cạnh rốn hoặc dưới bờ sườn phải kèm theo vàng da nên ở những người trẻ có thể nhầm lẫn với nang ống mật chủ.

- Ở trẻ em, do không có sỏi làm tắc ống mật nên không thấy triệu chứng vàng da, bilirubin máu không tăng cao nhưng có sốt do giun chui vào ống mật gây nên những cơn đau dữ dội. Ấn vào dưới mũi xương ức làm bệnh nhân đau, điềm này tương ứng với điểm phân thùy 2 của gan, nơi giun hay chui lên.

Sau khoảng 1 - 2 tuần, cơn đau giảm đi nhưng vẫn sốt cao, sốt dai dẳng hàng tháng, thở nông nên dễ nghĩ đến thâm nhiễm bệnh lao; chân bị phù, tiểu ít nên tưởng là bị viêm thận; da xanh xao, gầy còm, mặt và chân phù thường nghĩ tới tình trạng suy dinh dưỡng. Trong thời gian này ápxe gan đường mật đã hình thành, phát triển ra mặt gan rồi vỡ gây biến chứng nặng dẫn đến tử vong.

Các biến chứng nguy hiểm của bệnh áp xe gan đường mật

Gan là một cơ quan quan trọng với nhiều chức năng như dự trữ năng lượng, tạo protein và loại bỏ những chất gây hại khỏi cơ thể.  Áp xe gan đường mật là một bệnh lý rất nguy hiểm về gan vì sẽ gây nhiễm khuẩn, nhiễm độc tế bào gan và có thể xảy ra biến chứng nghiêm trọng như:

- Chảy máu đường mật là một biến chứng nặng chỉ gặp trong ápxe gan đường mật. Theo các nhà khoa học, chưa có trường hợp nào bị chảy máu đường mật do ápxe gan amíp mặc dù loại ápxe này tuy xuất phát từ các tĩnh mạch cửa trong nhu mô gan nhưng các tĩnh mạch bị viêm tắc, trong mủ có khi lẫn một ít máu mà không chảy máu ồ ạt kể cả sau khi dẫn lưu ổ ápxe. Điều trị chảy máu đường mật bằng cách mở ống mật chủ lấy bỏ dị vật rồi bơm rửa. Trường hợp còn chảy máu thì thắt động mạch gan nếu không khu trú được vị trí chảy máu, có thể thắt thùy gan trái hay tiểu thùy gan phải nếu khu trú được vị trí chảy máu. Nếu cắt toàn bộ gan phải thì tỉ lệ tử vong sẽ rất cao vì thể trạng bệnh nhân đã yếu sẵn. Có thể luồn ống thông vào động mạch gan để nút mạch.

- Áp xe gan đường mật vỡ vào ổ bụng có thể gây ra ápxe dưới cơ hoành hay viêm toàn bộ màng bụng. Ápxe gan đường mật vỡ vào lồng ngực thường gây tử vong cao. Việc chẩn đoán và xử trí ápxe gan đường mật vỡ vào lồng ngực dễ thiếu sót vì chẩn đoán áp xe đường mật nhưng không chẩn đoán viêm mủ màng phổi nên không dẫn lưu lồng ngực hoặc ngược lại chỉ chẩn đoán viêm mủ màng phổi mà không xử trí ápxe đường mật. Khi bệnh nhân vào cấp cứu tại bệnh viện, triệu chứng khó thở do viêm mủ màng phổi lấn át triệu chứng ápxe gan đường mật đã bị vỡ. Trong trường hợp này cần dẫn lưu màng phổi cấp cứu và những ngày sau đó phải mở bụng thăm dò, mở thông ống mật chủ và dẫn lưu thì ổ ápxe gan đường mật thì viêm mủ màng phổi mới lành được. Ngược lại nếu chỉ mở đường bụng để dẫn lưu đường mật, lỗ thông giữa gan với lồng ngực qua cơ hành hoạt động như một cái van, lúc mở lúc đóng nên không thể dẫn lưu hết mủ trong lồng ngực được sẽ gây nên tình trạng dính phổi và ổ mủ đóng kén hoặc rò mủ thành ngực.

- Áp xe gan đường mật có khi gây rò làm thông ống mật với phế quản hoặc gây áp xe dưới cơ hoành, thủng cơ hoành rồi thông với phế quản. Thực tế thường gặp rò thông giữa nhánh ống mật của tiểu phân thùy 8 với một nhánh của thân phế quản nền của thùy dưới phổi phải. Trường hợp này phải mở bụng, lấy hết dị vật ở ở đường mật đã gây tắc mật. Khi đường mật đã lưu thông, lỗ rò có thể liền được. Có khi sau một thời gian phải mở lồng ngực, cắt bỏ các sẹo xơ rồi khâu đóng lỗ thủng cơ hoành và phổi hoặc có khi phải cắt một phân thùy hay thùy dưới phổi phải.

- Ápxe gan đường mật có thể gây viêm mủ màng tim vì ápxe gan đường mật thường nằm ở thùy trái của gan nên có thể gây thủng cơ hoành và vỡ vào ở màng tim. Diễn biến thường xảy ra đột ngột trên bệnh nhân đang được theo dõi ápxe gan trái, phần lớn các trường hợp đều bị tử vong do không kịp xử trí can thiệp. Nếu phát hiện kịp thời, phải mổ dẫn lưu màng tim. Trong các trường hợp ápxe gan vỡ vào màng tim thì phần lớn là bệnh nhân bị ápxe gan đường mật, rất ít người bệnh bị ápxe gan amíp.

Áp xe gan đường mật – Biến chứng nguy hiểm của sỏi mật
Điều trị áp xe gan đường mật.

Cách điều trị, phòng ngừa bệnh áp xe gan đường mật

Các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán

Trên thực tế, dấu hiệu ở phim chụp X-quang bệnh áp xe gan đường mật cũng tương tự như bệnh ápxe gan do amíp nhưng khó phát hiện hơn vì thường là những ổ ápxe nhỏ. Áp xe gan đường mật chẩn đoán chậm thường có kèm theo ápxe dưới cơ hoành, nhất là trường hợp ở trẻ em. Chụp hình đường mật qua da dễ thực hiện vì ống mật giãn. Nếu bệnh nhân mới mổ đường mật, còn để ống dẫn lưu thì có thể chụp kiểm tra bằng thuốc cản quang. Trên phim chụp có thể thấy những hình ảnh như thuốc nhòe ra ngoài đường mật, những ổ áp xe nhỏ bám vào thành ống mật như chùm hoa, khu trú ở một bên tiểu phân thùy hay nhiều tiểu phân thùy khác nhau cả gan phải lẫn gan trái, thường gặp nhất là ở tiểu phân thùy 2 và 8 hoặc thấy ổ ápxe thông với đường mật nếu chọc đúng ổ ápxe hay hình ảnh nhánh mật bị cắt cụt nếu ổ ápxe đóng kén cách biệt với ống mật.

Xét nghiệm công thức máu thấy bạch cầu tăng cao 15.000 - 20.000mm3 máu, tốc độ lắng máu cao 60 - 100mm trong giờ đầu, bilirubin máu cao 30 - 50mg/lít; urê máu cũng có xu hướng tăng cao trên 0,5g/lít, nếu kèm theo nhiễm khuẩn huyết có thể trên 1 g/lít. Thủ thuật chọc dò hút mủ khó thực hiện vì thường là ápxe nhỏ rải rác. Trường hợp ápxe to chọc hút mủ thấy màu trắng hay vàng kem nếu bị nhiễm tụ cầu khuẩn, trực khuẩn Coli; có màu xanh lục nếu bị nhiễm trực khuẩn mủ xanh.

Cách điều trị áp xe gan đường mật

Điều trị áp xe gan đường mật bằng kháng sinh liều cao thường thất bại vì thành ổ ápxe xơ dày, các mạch máu bị tắc nghẽn nên thuốc điều trị không có tác dụng đến các vi khuẩn. Vì vậy cần áp dụng nguyên tắc điều trị nếu có mủ phải dẫn lưu hoặc cắt gan.

Thực tế vì những ổ ápxe nhỏ nằm rải rác nên khó chọc dò hết mủ. Nếu chọc đúng ổ ápxe, hút ra mủ, đặt ống dẫn lưu sẽ bị rò mật kéo dài dẫn tới tình trạng suy kiệt vì đường dẫn mật phía dưới bị tắc nghẽn. Động tác cơ bản là mở ống mật chủ, lấy hết dị vật, sỏi hay giun để mật và mủ có thể chảy qua cơ vòng xuống tá tràng.

Trong trường hợp ápxe đóng kén ngăn cách với các nhánh mật trong gan, có thể dùng kẹp cong đưa qua ống mật chủ từ dưới lên phá vách ápxe để dẫn lưu, tay trái phẫu thuật viên đặt trên mặt gan để hướng dẫn đường đi của kẹp. Sau khi đặt ống dẫn lưu ống mật chủ, trong những ngày sau mổ cần dùng những kháng sinh chống vi khuẩn gram âm như gentamycine và vi khuẩn yếm khí như flagyl; có thể vừa tiêm truyền thuốc vừa bơm vào đường mật qua ống dẫn lưu.

Nếu những ổ áp xe khu trú ở một hay vài tiểu phân thùy hoặc ở bên gan trái, có thể tiến hành phẫu thuật cắt gan để tránh những biến chứng nặng. Khi cắt bỏ toàn bộ gan phải có thể rất nguy hiểm vì bệnh nhân bị suy kiệt và nhiễm khuẩn nặng, vì vậy cần cố gắng phá vách ổ áp xe để dẫn lưu qua ống mật chủ.

Phòng ngừa áp xe gan đường mật bằng cách nào?

Áp xe đường mật thường là do sỏi mật hoặc do giun gây nên, do đó để phòng ngừa bệnh thì bên cạnh việc duy trì một chế độ ăn uống điều độ, bảo đảm vệ sinh thì cũng cần tẩy giun  theo định kỳ, thường 6 một lần để hạn chế các yếu tố thuận lợi cho các bệnh lý viêm, nhiễm khuẩn đường mật xảy ra.

Nếu mắc sỏi mật cần phải có những biện pháp điều trị sỏi mật sớm, kịp thời nhằm hạn chế sự ứ trệ dịch mật, khôi phục sự lưu thông của đường mật để phòng ngừa các biến chứng gây ra bệnh áp xe đường mật.

Theo TTƯT. BS. Nguyễn Võ Hinh (Báo SKĐS)

10 lợi ích sức khỏe tuyệt vời của cà chua

Một số nghiên cứu mới đây cho thấy sỏi thận và sỏi mật ít có khả năng hình thành ở những người ăn cà chua thường xuyên.

Cà chua là loại quả được sử dụng phổ biến trong bữa ăn hằng ngày. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết những lợi ích sức khỏe mà cà chua mang lại cho con người. Dưới đây là 10 công dụng tuyệt vời của cà chua mà Trang Hindustan tổng hợp qua nhiều nghiên cứu mới nhất về loại quả này.

#1. Cà chua là nguồn cung cấp dồi dào vitamin C, vitamin K, chất sắt, folate, kali và các chất dinh dưỡng khác. Một quả cà chua cỡ vừa chứa 22 kcal, 0 gr chất béo, 5 gr carbohydrate, 1 gr chất xơ, 1 gr protein, 5 gr natri.

lợi ích sức khỏe của cà chua

#2. Cà chua chứa một chất chống ô xy hóa có tên gọi lycopene. Chất này giúp tạo sắc đỏ cho cà chua, đồng thời giúp giảm cholesterol, tăng cường thị lực và chống nhiều loại bệnh ung thư.

lợi ích sức khỏe của cà chua

#3. Beta-carotene, vốn cũng được tìm thấy trong cà rốt và khoai lang, giúp bảo vệ làn da khỏi những tổn thương do ánh nắng mặt trời gây ra. Cùng với lycopene, chất này giúp da trở nên bớt nhạy cảm với tia tử ngoại, “thủ phạm” gây ra nếp nhăn cùng nhiều tác động có hại khác cho da.

lợi ích sức khỏe của cà chua

#4. Đưa cà chua vào chế độ ăn hằng ngày có thể làm giảm rủi ro bị huyết áp cao, do cà chua chứa nhiều kali. Một lượng kali đầy đủ giúp giảm tình trạng tích nước có thể khiến cơ thể sưng phù.

lợi ích sức khỏe của cà chua

#5. Cà chua chứa ít calorie, một nguồn chất xơ và có chỉ số glycemic thấp (chỉ số này phản ánh tốc độ làm tăng đường huyết sau khi ăn các thực phẩm giàu chất bột đường). Loại quả này cũng chứa nhiều a xít alpha-lipoic, chất chống ô xy hóa cần cho quá trình chuyển hóa năng lượng.

lợi ích sức khỏe của cà chua

#6. Cà chua là một nguồn cung cấp chromium đáng kể. Chất này có tác dụng điều hòa lượng đường trong máu.

lợi ích sức khỏe của cà chua

#7. Một số nghiên cứu cho thấy sỏi thận và sỏi mật ít có khả năng hình thành ở những người ăn cà chua không hạt.

Lợi ích sức khỏe của cà chua.

#8. Cà chua giúp giảm tình trạng đau mãn tính. Nếu bạn phải đối phó tình trạng đau mãn tính từ nhẹ đến vừa phải (chẳng hạn viêm khớp hoặc đau lưng), cà chua có thể đóng vai trò “thuốc giảm đau”. Cà chua chứa nhiều chất flavonoid và carotenoid, vốn được biết đến như tác nhân kháng viêm. Tình trạng đau mãn tính bao gồm chứng viêm mãn tính, vì thế tấn công vào chứng viêm là cách giảm đau hiệu quả.

Lợi ích sức khỏe của cà chua.

#9. Do cà chua chứa nhiều nước và chất xơ, loại quả này được xem là “thực phẩm lấp đầy”, tức có thể làm cho bạn no bụng nhưng không khiến bạn phải nạp calorie hay chất béo, có thể giúp bạn giảm cân.

Lợi ích sức khỏe của cà chua.

#10. Ăn nhiều cà chua mỗi ngày có thể giữ cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh do nó giúp ngăn ngừa cả tình trạng táo bón và tiêu chảy. Ngoài ra, loại quả này còn giúp chống bệnh vàng da và loại bỏ chất độc khỏi cơ thể hết sức hiệu quả.

Sỏi Mật Trái Sung  (Theo Hindustan)

Các bệnh của túi mật và cách nhận biết, điều trị

Các bệnh của túi mật có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng ở những người trung niên bệnh thường dễ gặp hơn, đặc biệt là nữ giới. Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và có các phương pháp điều trị kịp thời và hiệu quả.

Trong cơ thể, túi mật tuy là một cơ quan có nhiệm vụ chủ yếu là lưu trữ dịch mật do gan bài tiết và điều tiết dần dần xuống ruột giúp cho quá trình tiêu hóa thức ăn hàng ngày của con người, nhưng lại rất dễ bị lâm bệnh. Việc ăn uống, sinh hoạt bất hợp lý là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các bệnh của túi mật. Vậy túi mật là gì, có chức năng gì? Các bệnh thường gặp của túi mật là gì? Dấu hiệu nhận biết các bệnh của túi mật và cách điều trị, phòng ngừa như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây.

Túi mật có chức năng gì?

Túi mật (tiếng Anh là Gallbadder) là một túi nhỏ hình quả lê, màu xanh, nằm ở mặt dưới của thùy gan phải, dài khoảng từ 6 – 8cm và rộng nhất là 3cm khi căng đầy. Đây là một bộ phận của đường dẫn mật ngoài gan, gồm có 3 phần: đáy, thân và cổ. Ống dẫn mật từ túi mật tới ống mật chủ dài 3 – 4cm, đoạn đầu rộng 4 – 5mm, đoạn cuối hẹp 2,5mm. Trong lòng ở phần trên của ống túi mật có những van gọi là van Heister làm cho ống túi mật không bị gấp lại và làm cho mật lưu thông dễ dàng.

bệnh túi mật, bệnh của túi mật, các bệnh của túi mật
Cấu tạo của túi mật (Gallbladder).

Túi mật là nơi dự trữ mật do gan bài tiết ra. Khi ăn thức ăn, túi mật có chức năng co bóp để đẩy dịch mật qua đường mật vào ruột non giúp tiêu hóa thức ăn. Những lắng đọng bất thường của các thành phần chính trong dịch mật sẽ hình thành nên bùn mật, sỏi mật. Bệnh sỏi mật thường gây ra đau bụng, viêm túi mật và viêm tụy.

Trong cơ thể, gan hoạt động sản xuất mật liên tục, mật là một chất dịch màu vàng hơi xanh lục, có vị đắng. Mật đóng một vai trò quan trọng vào quá trình tiêu hoá thức ăn. Muối mật là Natri Glycocholate và Natri Taurocholate có vai trò phân huỷ các chất béo, thúc đẩy cho hoạt động của các men Lipase (Phân huỷ Lipid). Chúng còn giúp cho các chất béo đã được tiêu hoá có thể đi qua được thành ruột.

Cũng tương tự như vậy, muối mật có tác dụng vận chuyển các Vitamin tan trong dầu như các vitamin A, D, E và K. Muối mật không bị mất đi mà được tái hấp thu sau khi sử dụng. Khoảng 80-90% muối mật sẽ theo máu chuyển lại về gan và kích thích gan sản sinh thêm mật. Mỗi ngày cứ 12 tiếng, gan tiết ra một lượng dịch mật khoảng 450ml, tuy nhiên thể tích tối đa của túi mật chỉ ở mức 30-60ml (95% là nước). Ngoài muối khoáng, muối mật, trong dịch mật còn có cholesterol và sắc tố mật. Khi không diễn ra sự tiêu hóa, dịch mật sẽ quay ngược trở về túi mật qua ống túi mật. Khi được dự trữ trong túi mật, mật sẽ bị mất bớt nước và trở nên cô đặc hơn. Khi chất béo đi vào tá tràng, túi mật bị kích thích, co bóp và tống mật xuống tá tràng.

Các bệnh của túi mật

Các bệnh của túi mật có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng ở những người trung niên bệnh thường dễ gặp hơn, đặc biệt là nữ giới. Dưới đây là các bệnh của túi mật thường gặp nhất.

- Sỏi túi mật:  Sỏi túi mật là sự kết tụ thành một khối rắn chắc của các thành phần có trong dịch mật, bao gồm nhiều thành phần khác nhau, chủ yếu là Cholesterol, Bilirubin (sắc tố mật), Canxi.  Sỏi túi mật có thể gây đau và nhiều biến chứng nguy hiểm khác.

bệnh túi mật, bệnh của túi mật, các bệnh của túi mật
Bệnh túi mật thường gặp nhất là sỏi túi mật.

- Nhiễm trùng túi mật:  Nhiễm trùng túi mật do nhiều nguyên nhân khác nhau, hoặc do sỏi hoặc do giun chui vào túi mật mang theo vi khuẩn gây viêm nhiễm.

- Viêm túi mật:  Nếu sỏi ở cổ túi mật sẽ làm cản trở sự lưu thông bình thường của dịch mật, làm tắc nghẽn đường mật, muối mật kích thích gây tổn thương thành túi mật, lúc đó vi khuẩn có khả năng xâm nhập vào trong túi mật và phát triển gây ra tình trạng viêm túi mật cấp cấp. Theo số liệu thống kê mới nhất cho thấy có tới hơn  90% các trường hợp viêm túi mật là do sỏi gây ra.

- Polyp túi mật: Polyp túi mật là một dạng tổn thương dạng u hoặc giả u phát triển trên bề mặt niêm mạc túi mật, đó là kết quả của sự tích tụ cholesterol, thường vô hại và hiếm khi gây ung thư túi mật. Polyp túi mật thường không có triệu chứng và không cần điều trị.

- Rối loạn vận động túi mật: Túi mật có thể mắc bệnh rối loạn vận động nên làm suy giảm chức năng túi mật mà không phải do sỏi gây nên. Nguyên nhân của rối loạn vận động túi mật có thể là do viêm mãn tính, căng thẳng, do cơ trơn của túi mật hoặc cơ vòng Ốt đi (Oddi) quá chặt. Ngoài ra có thể do suy giảm chức năng tuyến giáp cũng gây nên tình trạng rối loạn vận động túi mật.

- Ung thư túi mật: Ung thư túi mật khó chẩn đoán vì nó thường không có dấu hiệu hay triệu chứng cảnh báo trước. Trong thực tế, ung thư túi mật chỉ được phát hiện tình cờ khi cắt túi mật do các nguyên nhân khác như sỏi mật. Còn nếu có triệu chứng tại thời điểm được chẩn đoán, ung thư túi mật đã ở giai đoạn nặng. Ung thư túi mật không phổ biến, nếu phát hiện sớm, loại bỏ túi mật và các mô bị ảnh hưởng trong ống dẫn mật là điều trị tiêu chuẩn. Nhưng nếu phát hiện ở giai đoạn muộn thì cơ hội sống sót của bệnh nhân là rất thấp.

Dấu hiệu nhận biết bệnh của túi mật

Bệnh của túi mật thường có 4 triệu chứng thường gặp nhất là: Đau, sốt, vàng da và rối loạn tiêu hóa.

- Đau: Tùy theo từng thể bệnh của túi mật mà có các triệu chứng đặc thù, nhưng bệnh của túi mật thường có đau bụng ở vùng dưới bờ sườn bên phải hoặc vùng thượng vị (dễ nhầm với đau dạ dày, tụy tạng). Có thể là những cơn đau dữ dội hoặc đau âm ỉ, đau dai dẳng hoặc thoáng qua, tùy theo thương tổn của túi mật.

- Sốt: Tiếp đến là sốt cao, rét run, đặc biệt trong trong hợp viêm nhiễm hoặc do sỏi túi mật (hoặc có cả sỏi đường dẫn mật). Với người tuổi cao, sức yếu thì đôi khi không sốt do phản xạ của cơ thể đã kém.

Vàng da: Triệu chứng vàng da, nước tiểu vàng xuất hiện mỗi khi có viêm nặng hoặc sỏi đường dẫn mật, túi mật (hoặc cả hai).

- Rối loạn tiêu hóa: Các triệu chứng đau bụng, buồn nôn, nôn, đầy hơi, trướng bụng, chán ăn có thể xuất hiện trong bệnh của túi mật. Đặc biệt, bệnh của túi mật có cơn đau quặn gan do rối loạn vận động của túi mật, làm túi mật tăng co bóp khiến dịch mật trong túi mật không ra được và không xuống được tá tràng, làm tăng áp lực trong túi mật.

bệnh túi mật, bệnh của túi mật, các bệnh của túi mật
Đau, sốt, vàng da và rối loạn tiêu hóa là 4 triệu chứng điển hình nhất của các bệnh về túi mật.

Nguyên tắc điều trị và phòng ngừa bệnh của túi mật

Khi có những biểu hiện nghi ngờ mắc các bệnh ở túi mật, đặc biệt là những người ở tuổi trung niên, người cao tuổi, nhất là nữ giới, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị sớm tránh xảy ra biến chứng.

Trong một số trường hợp khi các bệnh lý của túi mật đã trở nên trầm trọng, bệnh nhân có thể được chỉ định cắt bỏ túi mật. Sỏi túi mật là nguyên nhân chính thường gặp nhất trong chỉ định cắt túi mật. Người bệnh sẽ cần cắt túi mật nếu sỏi chiếm 2/3 diện tích túi mật, sỏi gây viêm túi mật tái đi tái lại nhiều lần, viêm túi mật cấp tính, túi mật đã bị vôi hóa không còn chức năng dự trữ và cô đặc dịch mật…

Sau phẫu thuật cắt túi mật, người bệnh có thể đối diện với nguy cơ gặp phải các biến chứng trên đường tiêu hóa. Nguyên nhân là dù sau khi túi mật bị loại bỏ, gan vẫn sản xuất dịch mật đều đặn, chất lượng và số lượng dịch mật không hề thay đổi. Nhưng thay vì đi con đường vòng như trước kia, nay dịch mật đi nhanh hơn và đổ thẳng xuống  tá tràng  ngay cả khi không có thức ăn. Điều này có thể gây ra những rối loạn rối loạn nhất định về tiêu hóa như đầy trướng, chậm tiêu hay chán ăn. Do đó, nếu các bệnh của túi mật không làm phát sinh triệu chứng hoặc bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào, cần cân nhắc kỹ trước khi tiến hành phẫu thuật cắt túi mật.

Để phòng bệnh của túi mật, điều quan trọng nhất là cần có chế độ ăn uống hợp lý, do đó, nên hạn chế ăn mỡ, thịt đỏ (thịt bò, trâu, chó), lòng đỏ trứng và các loại thức ăn gây táo bón (thức ăn, nước uống có nhiều chất tanin), đặc biệt người đã có bệnh của túi mật (sỏi, viêm, polyp). Bởi vì, táo bón sẽ tạo cơ hội cho vi khuẩn đường ruột phát triển, dẫn đến viêm túi mật và ống mật, làm cho mật dễ lắng đọng thành sỏi. Tăng cường ăn đạm thực vật (đỗ, đậu phụ…), rau, trái cây.

Với người có bệnh túi mật thì mỗi ngày chỉ nên ăn một lần thịt, dùng loại thịt trắng và nạc, không có mỡ.

Cần tẩy giun theo định kỳ mà bác sĩ khám bệnh tư vấn, kê đơn (không tự động mua thuốc tẩy giun). Bởi vì, nếu có giun, chúng có thể chui lên ống mật gây viêm túi mật và sau khi chết sẽ tạo thành sỏi mật.

Tham khảo:

Sỏi mật trái sung (Theo SKĐS)